Tin tức tổng hợp
Bản in
10/19/2009 1:44:35 PM

Tạo cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề thực sự bức xúc

(GD&TĐ) - Phóng viên (PV): Thưa Thứ trưởng theo Chương trình làm việc của Quốc hội, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục (Dự án Luật) sẽ trình Quốc hội khoá XII thảo luận và xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 6 khai mạc vào ngày 20/10/2009. Xin bà cho biết những lý do của việc sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục lần này?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (thay thế Luật Giáo dục năm 1998) tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động giáo dục. Qua 3 năm thực hiện, Luật Giáo dục đã góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật, đã nảy sinh một số điểm chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn, một số nội dung cần được sửa đổi, bổ sung cho rõ ràng hơn, dễ hướng dẫn, dễ thực hiện.

Một số quy định của Luật cần được sửa đổi cho phù hợp với chủ trương đổi mới, phân cấp quản lý giáo dục, như các quy định về thẩm quyền thành lập trường đại học, thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; quyền và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục, trong đó có việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục đối với tất cả cơ sở giáo dục trên địa bàn. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục lần này nhằm tiếp tục thực hiện phân cấp mạnh mẽ hơn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục.

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào các quan hệ kinh tế thế giới, một số điều của Luật Giáo dục cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên, quản lý tốt hơn hoạt động hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.

Từ những lý do nêu trên, ngày 15 tháng 11 năm 2008 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 27/2008/QH12 về “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII”, theo đó Dự án Luật sẽ được Quốc hội khoá XII xem xét thông qua vào kỳ họp thứ 6.

PV: Hiện nay Dự án Luật đã được trình Quốc hội, xin bà cho biết nếu Dự án Luật được thông qua thì sẽ có tác động kinh tế - xã hội như thế nào?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Dự án Luật nếu được Quốc hội thông qua sẽ có tác động nhiều mặt tới kinh tế - xã hội, không chỉ nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động giáo dục mà còn góp phần đổi mới quản lý giáo dục. Dự án Luật được thông qua sẽ tác động tới việc thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ, tiên tiến, phù hợp với đổi mới giáo dục phổ thông. Giúp cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục quản lý tốt hơn việc biên soạn và bảo đảm chất lượng của sách giáo khoa; bảo đảm có sách giáo khoa dùng để giảng dạy trong các trường chuyên biệt, phù hợp với người học tại các trường năng khiếu, trường giáo dưỡng, trường dành cho người tàn tật, khuyết tật, trường dự bị đại học; bảo đảm có đủ giáo trình giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Nâng cao chất lượng nền giáo dục Việt Nam, trong đó có việc đào tạo trình độ tiến sĩ. Đẩy mạnh phân cấp cho cơ quan quản lý giáo dục và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở giáo dục, tạo động lực và tính chủ động của các cơ sở giáo dục. Cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý và xã hội về mục tiêu, nhiệm vụ và chất lượng đào tạo của cơ sở mình; công khai, minh bạch hoạt động đào tạo, việc thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm sự giám sát của các cơ quan nhà nước, đoàn thể và xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục theo hướng xã hội hoá, huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục và đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia các hoạt động phát triển giáo dục. Đồng thời khắc phục tình trạng cơ sở giáo dục hoạt động giáo dục khi không đủ điều kiện về đội ngũ nhà giáo, về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tuyển sinh.

SV ĐH Dược Hà Nội nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm
SV ĐH Dược Hà Nội nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm

PV: Một trong những nội dung bổ sung của Dự án Luật là phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi. Tại sao chỉ quy định phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi? Nhà nước có đủ điều kiện bảo đảm thực hiện quy định này?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 5 thông qua Nghị quyết số 35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 trong đó xác định “phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi”. Tại sao chỉ quy định phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi ? vấn đề này đã được xác định từ khi thông qua Nghị quyết số 35/2009/NQ-QH12. Xuất phát từ vai trò, vị trí của giáo dục mầm non, bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Chính những kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua Chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập sau này, đặc biệt trẻ 5 tuổi cần phải được chuẩn bị một cách đầy đủ về tâm thế để bước vào lớp 1.Theo thống kê, hiện nay tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học bình quân cả nước là 90%, tuy nhiên, nhiều địa phương, tỷ lệ này thấp hơn và trẻ mới chỉ được học một buổi/ngày. Trẻ 5 tuổi ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng, thể lực và tâm lý sẵn sàng đi học. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém ở các cấp học sau. Để có cơ sở triển khai giải pháp tập trung cho trẻ 5 tuổi có điều kiện chuẩn bị bước vào lớp 1, Dự án luật đề xuất bổ sung quy định “phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi”. Đây cũng là yêu cầu có tính pháp lý cao, cần có sự ổn định và thực hiện lâu dài, huy động nguồn lực lớn và các lực lượng xã hội tham gia, cần được xác định rõ ngay trong Luật giáo dục. Quy định phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi thể hiện tính ưu việt của chế độ ta và khẳng định thành tựu Quốc gia trong việc giáo dục và chăm sóc trẻ em. Phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, củng cố giữ vững trẻ dưới 5 tuổi là một trong những nội dung của chính sách phát triển giáo dục mầm non nói chung. Nhà nước sẽ tiếp tục tăng đầu tư và cơ cấu lại chi ngân sách cho các mục tiêu của giáo dục và đào tạo. Ưu tiên ngân sách cho phổ cập giáo dục tiểu học miễn học phí, phổ cập trung học cơ sở và phổ cập mầm non 5 tuổi, trước mắt còn có thu học phí. Việc sửa đổi Luật theo hướng trên tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư có hiệu quả cho nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung và trẻ em 5 tuổi nói riêng.

PV: Một trong những vấn đề luôn được quan tâm của dư luận đó là chương trình giáo dục và sách giáo khoa. Việc sửa đổi, bổ sung Luật lần này có liên quan đến gì đến nội dung này, thưa bà?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Nội dung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục liên quan đến 22 điều trong tổng số 120 điều của Luật, bổ sung mới 01 mục vào Chương VII gồm 03 điều mới. Trong đó có sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 về chương trình giáo dục và khoản 3 Điều 29 về sách giáo khoa. Nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 của Dự án Luật về chương trình giáo dục nhằm triển khai thực hiện quy định về chương trình giáo dục với chất lượng cao hơn trong thực tế, đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục bảo đảm hợp lý, phù hợp thực tiễn, yêu cầu hội nhập quốc tế, tạo cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện. Việc quy định này trong Dự án Luật cũng phù hợp với chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo thực hiện đối với giáo dục đại học.

Nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 29 về sách giáo khoa nhằm góp phần bảo đảm chất lượng của sách giáo khoa và quản lý tốt hơn việc biên soạn, phát hành sách giáo khoa. Theo quy định của Dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm ban hành quy định về tiêu chuẩn sách giáo khoa, việc biên soạn sách giáo khoa; việc chọn sách để dạy thí điểm, tổ chức dạy thí điểm, lấy ý kiến đóng góp của nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, hội nghề nghiệp, học sinh; việc thẩm định, duyệt và quyết định chọn sách để sử dụng làm sách giáo khoa, bao gồm cả sách giáo khoa bằng chữ nổi, bằng tiếng dân tộc và sách giáo khoa cho học sinh trường chuyên biệt. Nhiệm vụ của các trường chuyên biệt như trường năng khiếu, trường giáo dưỡng, trường dành cho người tàn tật, khuyết tật, trường dự bị đại học có một số điểm khác so với cơ sở giáo dục phổ thông nói chung, do đó sách giáo khoa dùng để giảng dạy trong các trường chuyên biệt cần có quy định phù hợp với người học tại các cơ sở giáo dục này.

PV: Như bà đã nêu ở trên, một trong những lý do sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục lần này là nhằm thực hiện chủ trương tăng cường phân cấp quản lý giáo dục cho các cơ quan quản lý giáo dục địa phương và giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học. Xin bà cho biết chủ trương này đã được quy định như thế nào trong Dự án Luật?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Việc phân cấp đối với các cơ quan quản lý về giáo dục ở địa phương, giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục đại học và quy định nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các trường là đòi hỏi tất yếu hiện nay và phù hợp với xu thế chung. Dự án Luật có 4 nội dung phân cấp đối với các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, cụ thể:

Một là, giao thẩm quyền thành lập trường đại học cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Hai là, quy định thẩm quyền cho phép đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hai vấn đề này Luật giáo dục hiện hành quy định thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Ba là, quy định thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động giáo dục đối với cơ sở giáo dục đại học; thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục đối với cơ sở giáo dục khác ở các cấp học sẽ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định theo hướng giao cơ quan quản lý giáo dục địa phương thực hiện.

Bốn là, quy định Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo sự phân cấp của Chính phủ, trong đó có việc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của tất cả cơ sở giáo dục trên địa bàn; có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình trường, thực hiện xã hội hoá giáo dục; đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương.

Hai quy định giao quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm cho cơ sở giáo dục bao gồm:

Thứ nhất, quy định thủ trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có quyền lựa chọn giáo trình, bảo đảm có đủ giáo trình làm tài liệu giảng dạy, học tập không chấp nhận tình trạng dạy chay, học chay.

Thứ hai, quy định trách nhiệm công khai của nhà trường. Nhà trường có trách nhiệm công bố công khai mục tiêu, chương trình giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục và hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường.

PV: Một số ý kiến lo ngại rằng, trong vài năm gần đây có tình trạng thành lập trường đại học một cách ồ ạt, nếu giao thẩm quyền này cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì e rằng tình trạng này sẽ không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng hơn. Bà có ý kiến về vấn đề này như thế nào?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Trong 3 năm, từ năm 2006 đến năm 2008 có 48 trường đại học được thành lập, trong đó có 24 trường được thành lập mới, còn lại 24 trường được nâng cấp từ trường cao đẳng lên. Việc thành lập trường, nâng cấp trường đại học đều thực hiện theo quy hoạch mạng lưới các trường đại học. Hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện việc đánh giá các trường mới thành lập và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập trường. Trong quy trình thành lập trường đại học, việc thẩm định thành lập không chỉ riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện mà còn có sự tham gia của các Bộ, ngành khác như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở chính,…

Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cụ thể việc thành lập, cho phép thành lập trường đại học. Việc giao thẩm quyền này xác định rõ hơn trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trong quản lý nhà nước về giáo dục. Thủ tướng Chính phủ tập trung vào việc quản lý, điều hành vĩ mô, ban hành quy định về việc thành lập trường đại học nói chung. Chỉ trong trường hợp đặc biệt, việc thành lập những trường đại học có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương thành lập trước khi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập. Những trường hợp đặc biệt này sẽ được quy định cụ thể tại văn bản quy định về điều kiện và thủ tục thành lập trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật, Ban soạn thảo đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị, nghiên cứu Luật Giáo dục của một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới; lấy ý kiến các sở giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục; lấy ý kiến các bộ, ngành và đã 4 lần đưa Dự án Luật lên Website của Bộ Giáo dục và Đào tạo để lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; Dự án Luật cũng đã được Bộ Tư pháp thẩm định, đã được các thành viên Chính phủ thảo luận tại phiên họp Chính phủ ngày 05/8/2009. Đa số các ý kiến góp ý đều đồng ý với quy định giao thẩm quyền thành lập trường đại học cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.  

PV: Theo bà thì nội dung nào của Dự án Luật được coi là quan trọng nhất?

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Việc sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục lần này được thực hiện trên nguyên tắc phải xuất phát từ những đòi hỏi khách quan, lựa chọn những nội dung thực sự cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động giáo dục và trong công tác quản lý giáo dục, góp phần đổi mới giáo dục và thực hiện "phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu". Các quy định sửa đổi, bổ sung đều nhằm mục đích nêu trên, với mong muốn góp phần thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục, vì vậy, tất cả 22 điều được sửa đổi, bổ sung và bổ sung một mục mới với 3 điều mới đều có ý nghĩa quan trọng.

PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn.

P.V (thực hiện)

Sở GD&ĐT Quảng Bình